HANU
 
 
Picture of Nguyễn Thị Tô Vân
Bánh tok và đời sống của người Hàn Quốc
by Nguyễn Thị Tô Vân - Tuesday, 7 April 2009, 12:53 PM
 

BÁNH TTEOK TRONG ĐỜI SỐNG CỦA

NGƯỜI HÀN QUỐC

Giáo viên hướng dẫn: Đào Vũ Vũ

Sinh viên : Nguyễn Thị Thảo 1H06

Đặng Thị Hiệp 1H06

PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lý do nghiên cứu đề tài

Từng là một đất nước nông nghiệp, sau chưa đầy bốn thập kỉ, đất nước Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “kì tích sông Hàn”. Ngày nay, khi nhắc tới Hàn Quốc, người ta biết đến với một Hàn Quốc năng động, nhiệt huyết, một đất nước có nền công nghiệp phát triển mạnh và ngày càng khẳng định vị thế của mình trong khu vực cũng như trên thế giới.

Chúng ta biết đến đất nước Hàn Quốc với một nền văn hóa truyền thống lâu đời, phong phú về di sản , đậm đà về bản sắc và mang đúng chất Hàn Quốc. Một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc được lưu giữ cho đến ngày nay và luôn được người Hàn Quốc tự hào mỗi khi quảng bá hình ảnh của mình đó là nét đẹp trong văn hóa ẩm thực. Trong đó, nổi bật lên là hình ảnh bánh tteok trong đời sống của họ. Bởi lẽ, bánh tteok chính là biểu tượng văn hóa điển hình của đất nước và con người Hàn Quốc, nó mang tính chất tinh thần và thực dụng. Việc tìm hiểu một nền văn hóa không thể không tìm hiểu về ẩm thực của đất nước đó. Đây chính là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu, thông qua đó tiếp cận với nền văn hóa Hàn Quốc.

II. Đối tượng nghiên cứu

Cũng như bánh Chưng của Việt Nam, chiếc bánh tteok của Hàn Quốc từ khi xuất hiện đến thời điểm này đã cùng đồng hành với người dân trên bán đảo Hàn, cũng là món ẩm thực trải qua được thử thách thời gian. Vậy, bánh tteok có nguồn gốc từ đâu, được hình thành như thế nào và có ý nghĩa ra sao trong đời sống. Để tìm câu trả lời cho những vấn đề này , thông qua đề tài: “ B ánh tteok trong đời sống của người Hàn Quốc” , chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra được câu trả lời thỏa đáng.

III. Mục đích, cách thức nghiên cứu và đóng góp của nghiên cứu

Mục đích chính của bài nghiên cứu này là giới thiệu về lịch sử cũng như ý nghĩa của bánh tteok trong đời sống của người dân Hàn Quốc. Để hiểu rõ hơn điều này, chúng t ôi lần tìm về các giai đoạn lịch sử của Hàn Quốc, tìm hiểu sự tồn tại và vai trò của bánh tteok qua các thời kì đó ra sao và phân tích, tổng hợp, biên dịch các tài liệu nhằm đưa ra một hình ảnh tổng quan và hệ thống về chiếc bánh truyền thống của người Hàn Quốc – bánh tteok.

Thông qua nghiên cứu, người đọc có thể hiểu được phần nào các tên gọi của bánh tteok, biết được về lịch sử của bánh tteok qua các thời kỳ và biết được cách chế biến bánh tteok của người Hàn Quốc. Đây là đóng góp lớn nhất của bài nghiên cứu này. Bên cạnh đó, thông qua hình ảnh bánh tteok, chúng ta hiểu thêm về văn hóa Hàn Quốc và con người Hàn Quốc.

CHƯƠNG I : BÁNH TTEOK TRONG LỊCH SỬ HÀN QUỐC

1. Nguồn gốc của bánh tteok và Ý nghĩa tên gọi của bánh tteok

Từ kỉ nguyên đồ đồng, cư dân sinh sống ở bán đảo Hàn đã bắt đầu gieo trồng lúa.Vì vậy có thể nói, người dân Hàn Quốc đã có truyền thống gắn bó với nền nông nghiệp trồng lúa từ lâu đời. Có thể nói, mặc dù chỉ là 1 loại hạt nhỏ bé, nhưng lúa gạo đã trở thành nguồn sống chủ yếu cho dân tộc này. Vào mùa xuân, người ta rắc hạt lúa và chăm sóc chúng như những đứa trẻ, và họ tin tưởng rằng tùy thuộc vào mức độ chăm sóc cẩn thận tới đâu mà thành quả đạt được vào mùa thu sẽ khác tới đó.

Người Hàn Quốc coi lúa gạo là nguồn gốc của tất cả các loại hạt trong vũ trụ, là quà tặng quý giá nhất cho sự sống trên mặt đất. Một hạt lúa cũng được coi như một bảo vật. Bởi nó là căn nguyên cho tất cả các loại lương thực và ngũ cốc trên mặt đất, và nó còn là loại hạt đại diện cho bầu trời. Nó tiếp nhận ánh sáng mặt trời để lớn lên, và màu sắc của hạt gạo chính là sự pha trộn tuyệt vời nhất của ánh sáng trên bầu trời. Đó là màu trắng. Vỏ của hạt gạo khoác áo màu vàng, bao lấy hạt gạo màu trắng muốt, được coi như tác phẩm hoàn hảo, tinh tuý nhất mà thần linh đã ban cho hạ giới. Vì vậy mà người ta chỉ đặt bát cơm lên bàn thờ để cúng, đại diện cho các loại sản vật khác của đất trời.

Trong nghi lễ an táng của dân tộc Hàn, khi tiễn người chết tới nơi an nghỉ cuối cùng, người ta thường mặc cho họ áo màu trắng, chính là màu của hạt gạo, màu tập hợp của tất cả các ánh sáng trên bầu trời. Và việc mặc áo vải lanh bên ngoài áo trắng có ý nghĩa như hình ảnh tượng trưng của lớp vỏ trấu đang bao lấy hạt gạo. Đây chính là lời cảm tạ đến ông trời, vì những ân huệ mà ông trời đã ban cho để người chết có thể sống hết cuộc sống của mình mà không có gì phải luyến tiếc, để rồi đến khi kết thúc cuộc đời, họ lại được quay trở lại chính nơi mình đã sinh ra.

Cũng tương tự như vậy, hạt gạo - nguồn gốc của mọi loại hạt cũng được chọn như một loại hạt không thể thiếu trong nghi thức tế lễ của người dân Hàn Quốc. Người ta giã gạo và nặn những chiếc bánh tteok thật đẹp để dâng lên trời đất. Các loại bánh tteok cũng rất đa dạng và phong phú. Có những loại tteok được đặt trong điã hình tròn, và có những loại tteok được đặt trong đĩa hình vuông. Đĩa hình tròn được dâng lên cho trời, và đĩa hình vuông được dâng cho đất.

Bánh tteok có rất nhiều loại và cùng với đó là rất nhiều tên gọi. Từ được dùng nhiều nhất trong tên gọi của bánh tteok là “pyeon” nghĩa là “phiến”. Đây là một từ tiếng Hán có nghĩa là “tấm”, hay nó còn có ý nghĩa là nhỏ và phẳng. Ví dụ như “Songpyeon” là bánh tteok nhỏ với hương thơm của lá thông, “Jeolpyeon” là bánh được cắt ra từ những chiếc bánh tteok nặn hình phẳng...

Tiếp nữa, tuỳ theo các nguyên liệu bên trong nhân bánh tteok mà tên gọi của bánh tteok cũng rất đa dạng, như “Susutteok”(bánh tteok nhân kê), “Pattteok”(bánh tteok nhân đậu đỏ), “chapsaltteok”(bánh tteok gạo nếp), “Ssuktteok”(bánh tteok nhân cây ngải), “Hopaktteok”(bánh tteok nhân bí đao)...

“Paekseolki” là tên gọi dành cho bánh tteok được hấp lên có màu trắng như tuyết.

“Tuteoptteok” là bánh tteok được ví như cuộc trò chuyện ấm áp và thân mật.

“ssuktteok” là loại bánh tteok mà khi nhào bột, người ta trộn thêm ngải vào rồi rán lên.

“Kaetteok” là tên gọi dành cho bánh tteok được nhào và nặn ra một cách tuỳ ý, không theo khuôn mẫu.

“Pintaetteok” là loại bánh tteok được nặn phẳng giống như chiếc giường.

“Jangtteok” là loại bánh mà khi nhào bột, người ta nêm gia vị là tương ớt và tương toenjang.

“Joraengitteok” là loại bánh tteok được làm có hình dáng như chiếc rổ. Vì vậy loại bánh này còn có ý nghĩa giúp ngăn chặn được những tai hoạ và điềm xấu.

Ngoài ra, còn một số loại bánh tteok khác, như “Joyaktteok” có màu giống như đá thạch anh hay mã não, “Kyeongtan” tròn và đẹp giống như ngọc bích, “Taltteok” có hình tròn giống như mặt trăng, “Kochitteok” có hình dáng giống như cái kén của con tằm, “Karaetteok” là bánh tteok nặn tròn rồi được kéo dài ra, “Ssukkulle” có hình dáng cuộn lại, “Seokryupyeong” được nặn hình giống như quả lựu, “Mujikaetteok” lại là bánh tteok có màu sắc đẹp như cầu vồng...

Qua một số ví dụ trên, ngoài chữ “pyeon” xuất phát từ chữ Hán, chữ “ tteok ” có thể được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, chữ “tteok” là một từ thuần Hàn chỉ loại bánh được làm từ gạo, với ý nghĩa này, “tteok” có thể được dịch là “bánh gạo”. Thứ hai, chữ “tteok” còn có thể được hiểu như cách làm món bánh từ gạo với các quy trình sẽ được nói ở phần sau. Ở đây, chữ “tteok” có thể được dịch như chữ “chưng” hay chữ “hấp” trong tiếng Việt. Từ chiếc bánh tteok thuần túy , người ta đặt tên các loại bánh tteok theo các loại nguyên vật liệu được trộn vào trong quá trình làm bánh.

Qua mỗi giai đoạn lịch sử, tên gọi của chiếc bánh tteok cũng được thay đổi. Thông qua nội dung thứ hai, chúng ta có thể thấy được điều đó.

2. Các giai đoạn lịch sử của bánh tteok

2.1. Trước thời Tam Quốc

Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng người dân Hàn Quốc đã biết làm bánh tteok để ăn từ thời kì hình thành cuộc sống bộ lạc, nghĩa là trước cả thời Tam Quốc. Trong thời kì này, nguyên liệu chủ yếu được dùng để làm tteok là các loại lương thực và ngũ cốc mà người dân trồng và thu hoạch. Sở dĩ chúng ta biết được điều này là do có nhiều di vật như đồ cán bột(kaltol), bàn cán bột(kalpan), nồi đất(siru)...đã được khai quật, trong đó có những đồ dùng cần thiết cho việc làm bánh tteok. Tại các di tích của thời kì đồ đá mới ở Hwanghaedo, người ta cũng tìm thấy đồ dùng để tách vỏ ngũ cốc hay lương thực và bàn mài dùng để cán bột. Đồng thời cối đá là vật có từ trước đá mài cũng được phát hiện thấy ở di tích thời đồ đất nung chưa có hoa văn thuộc huyện Pukpyeon và Tongchang thuộc tỉnh Kyeonggydo. Ngoài ra, tại Najinchodo, nhiều nồi đất nung có tay cầm và có lỗ ở đáy cũng được tìm thấy.

kalpan và kaltol Siru

Với những chứng cứ và suy luận như trên, có thể thấy người Hàn Quốc đã biết làm thức ăn từ bột của các loại lương thực và ngũ cốc, hấp chín trong nồi đất để ăn từ rất sớm, trước thời Tam Quốc. Đồ ăn được làm từ bột của các loại lương thực, ngũ cốc và hấp chín trong nồi đất đầu tiên được gọi là “Sirutteok”(“siru” nghĩa là “nồi đất”).Thời đó, lúa gạo trồng được không nhiều nên có thể người ta còn sử dụng các loại ngũ cốc và lương thực đa dạng khác nhau như kê, đậu, và lúa mạch... trong việc làm bánh tteok.

Ngoài ra, ta còn thấy các đồ ăn của dân tộc Hàn thời cổ đại cũng được phổ biến sang Nhật Bản. Trong tác phẩm có tên “Jongjangwonseomun”của tác giả người Nhật Totaychi, xuất bản khoảng năm 752, có ghi chép một cách cụ thể cách làm bánh tteok, và chúng ta có thể phần nào đoán được hình dáng của bánh tteok thời bấy giờ. Trong cuốn sách có viết “Tetupyeong (bánh đậu xanh) dùng 2 hob (đơn vị đo thể tích, 1hob = 0,18l) gạo nếp và 1 hob đậu cho 1 tấm bánh, “Sotupyeong” (bánh đậu đỏ) dùng 2 hob gạo nếp và trộn vào 2 hob đậu đỏ cho mỗi tấm bánh”.Đây chính là nguyên hình của “Kongsirutteok” (bánh tteok đậu xanh) và “Patsirutteok” (bánh tteok đậu đỏ) ngày nay. Ngoài ra, trong cuốn sách này cũng có ghi chép về bánh “Jeonpyeong” (giống bánh đa) gọi là “Irimochihi” nghĩa là “bánh tteok rán trong dầu”, cho thấy từ trước thời Tam Quốc người dân Hàn Quốc đã biết làm các loại tteok rất đa dạng để ăn như “Sirutteok”, tteok trộn, hay tteok rán...Người ta dùng các loại tteok này chủ yếu trong các bữa ăn chung tượng trưng cho sự đoàn kết và hưng thịnh của cộng đồng .

Sirutteok Jeonpyeong

2.2. Thời Silla thống nhất

Trải qua thời Tam Quốc, đến thời Silla thống nhất, xã hội dần trở nên ổn định hơn và nền nông nghiệp với trọng tâm là việc trồng lúa cũng ngày càng được phát triển. Vì vậy trong thời kì này, việc làm bánh tteok với nguyên liệu chủ yếu là gạo nếp ngày càng trở nên phổ biến hơn.

Trong các bức bích hoạ tại các ngôi mộ thời Goguryeo ở Anak thuộc Hwanghaedo, người ta thấy hình vẽ của người đang hấp cái gì đó trong nồi đất. Đó trông giống như hình dáng của một người phụ nữ, tay phải cầm 1 chiếc thìa lớn, tay trái đang cầm đũa đảo tteok để kiểm tra xem bánh đã chín hay chưa. Bên cạnh đó, tại nhiều ngôi mộ cổ khác của thời Tam Quốc, người ta cũng khai quật được một số nồi đất, và trong một số tài liệu lịch sử như “Tam Quốc sử kí”, “tam Quốc di sử”, có rất nhiều những câu chuyện có liên quan đến bánh tteok. Qua đó, chúng ta có thể đoán được rằng bánh tteok đã chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong sinh hoạt ăn uống của người dân Silla thời bấy giờ.

Trong “Tam Quốc sử kí” có 1 câu chuyện như thế này. Thời Silla,vào khoảng năm 298, Yuri và talhae đều e ngại nhau nên không ai dám nhận ngôi vua. Họ đã nghĩ ra 1 cách là cùng cắn bánh tteok rồi căn cứ vào vết răng còn lại trên bánh tteok để xem con số của ai nhiều hơn. Kết quả là Yuri có vết răng nhiều hơn và ông đã trở thành vua của đất nước này. Một số câu chuyện về thời Silla cũng cho chúng ta thấy một số loại bánh tteok mà họ ăn thời đó là ngũ cốc được hấp chín rồi trộn lên như “Huintteok” (bánh tteok trắng), “Injolmi” (bánh phủ bột đậu), hay “Jolpyeon” (bánh tteok in hình hoa)...Đặc biệt, còn có chuyện kể rằng Paekkyeol tiên sinh (một danh nhân dưới triều vua Japi thời Silla, nổi tiếng với việc chế tạo ra chiếc đàn hạc 6 dây) đã rất hối tiếc vì ông kh ông thể ăn bánh tteok vào dịp cuối năm, cho thấy phong tục ăn bánh tteok vào dịp cuối năm của người dân Hàn đã có từ thời kì đó.

Tiếp nữa, trong “Tam Quốc di sử”, thời vua Hyoso(692~702) cũng có loại bánh tteok được gọi là “Solpyeong”. “sol” ở đây có nghĩa là “lưỡi” và âm này cũng gần giống với âm “jol” trong “Injolmi” và “Jolpyeon” nên các loại bánh này đều có hình dáng giống như chiếc lưỡi. Bên cạnh đó, các cư dân của vương quốc Palhae trong thời kì đó cũng đã biết làm “Sirutteok”để ăn. Trong tác phẩm có tên “Yeonggo tháp kí lược” của thời Palhae có nội dung “quả lê của vùng Yeongyanghyeon ở Sikhwago tuy bé nhưng mùi vị rất ngon nên cho loại quả này cùng với nho vào hấp cùng “Sirutteok” thì mùi vị ngon và đẹp hơn rất nhiều”.Ở thời kì này, tteok cũng đã được coi là một trong những món ăn quan trọng dùng để tế lễ. Trong “Tam Quốc di sử” cũng có đoạn ghi chép rằng “mỗi ngày vào lúc 3 giờ, lại chuẩn bị các thứ như đồ uống ( 감주 ) , bánh trái ( 병 ), đồ ăn ( 반 ), hoa quả ( 과 ), rau quả ( 채 ) để tế lễ.

2.3. Thời Goryeo

Susujeonpyeong

Yulgo

Trải qua thời đại Tam Quốc, đến thời Goryeo là thời kì hưng thịnh nhất của phật giáo. Văn hoá phật giáo có ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt trong đời sống sinh hoạt của người dân Goryeo và việc sinh hoạt ăn uống cũng không phải là ngoại lệ. Phong tục uống trà “eumda”(ẩm trà) cùng với việc tránh xa các loại thịt trong bữa ăn đã tạo nên một giai đoạn phát triển mới của tteok và các loại đồ chay. Cùng với đó, việc tăng sản lượng của lương thực và các loại ngũ cốc nhờ chính sách khuyến nông đã mang đến sự dư thừa về kinh tế, và sự phát triển của văn hoá tteok lại được thúc đẩy thêm một bước nữa. Chính nhờ sự phát triển đó mà cách nấu tteok và các loại tteok trong thời kì này rất đa dạng.

Chúng ta hãy thử cùng điểm qua các loại tteok xuất hiện trong các văn bản ghi chép của thời kì này. Trong tác phẩm có tên “Geogapilyong” của Trung Quốc có nói đến 1 loại tteok tên gọi là “Goryeoyulgo”, và trong tác phẩm “Lịch sử Haetong” của Han Ji Yun cũng giới thiệu những kiến thức về loại bánh này, đồng thời khen người Goryeo

làm “Yulgo” r ấ t ngon. “Yulgo” là một loại “Pamsolki” (bánh tteok hạt dẻ) được làm từ bột gạo nếp và bột hạt dẻ trộn vào nhau, rưới mật ong lên và hấp trong nồi đất. Trong tác phẩm “Jipongyusol” của Lee Su Kwang có viết “làm “Jongaepyeong” vào ngày “sangsa” để ăn”. Để làm bánh này, người ta trộn lá ngải nhỏ vào bột gạo làm bánh. Với cách làm như thế này, ta có thể đoán đây chính là nguyên hình của bánh “Ssuksolki” thời nay. Ngoài ra, thời đó cũng đã có các loại bánh như “Songkitteok” (bánh có vị vỏ thông) và “Sansamsolki” (bánh có vị sâm núi).

Thời kì trước đó , các loại bánh chủ yếu chỉ làm từ bột gạo rồi hấp lên, nhưng đến thời kì này ngoài bột gạo, người ta còn trộn hạt dẻ hay cây ngải vào bột gạo nếp để làm ra các loại bánh ngày càng đa dạng hơn. Nếu đọc qua tác phẩm “Mokeunjip” của Lee Sek, ta có thể biết được rằng ở thời Goryeo, người ta đã biết làm một loại bánh gọi là “Sutan” để ăn. “Sutan” là loại bánh được nhào bằng bột mì và bột gạo, sau đó luộc trong nước sôi rồi nhúng vào nước lạnh, sau khi để cho ráo nước người ta rưới mật ong và rắc hạt thông lên. Lee Sek cũng nói về “Sutan” trong tác phẩm của mình: “bánh này được ăn vào dịp rằm tháng 6, có vỏ màu trắng như tuyết, có vị ngọt và chua hoà quyện vào nhau...nhai trong miệng lâu sẽ cảm nhận được vị thanh và mát thấm vào cơ thể...”. Trong tác phẩm này, còn nhắc đến bánh “Susujonpyeong”. Bánh này được nặn bằng bột kê, rán trong dầu, rồi cho một ít đậu đỏ vào và nướng lên. Văn hoá phật giáo cùng với sự giao lưu với văn hóa Mông Cổ thời kì này đã đem lại ảnh hưởng rất lớn đến văn hoá ẩm thực của người Goryeo. Đặc biệt, một loại bánh có tên “Sanghwa” đã được du nhập vào vùng đất này. Loại bánh này đặc biệt ở chỗ người ta trộn rượu vào bột mì để nặn thành bánh, cho vào giữa một chút rau rồi rán lên. Loại bánh này có hình dạng gần giống với bánh “Jeungpyeon” - là loại bánh được cho rằng đã có từ trước thời Goryeo. Thời Goryeo không chỉ được biết đến là thời kì có rất nhiều các loại tteok đa dạng, mà đây còn là thời kì mà bánh tteok chiếm một vị trí rất quan trọng và có quan hệ mật thiết với cuộc sống sinh hoạt của cư dân. Trong cuốn “Lịch sử Goryeo” cũng nói đến việc ăn bánh “Jongaepyeong” vào ngày “sangsa” và ăn bánh “Sutan” vào dịp rằm tháng 6, cho thấy bánh tteok đã dần dần chiếm được vị trí như một món ăn trong các dịp lễ tết của dân tộc.

2.4. Thời Joseon

Bước sang thời Joseon, cùng với sự phát triển của kĩ thuật sản xuất và các phương pháp gia công chế biến trong nông nghiệp, văn hoá ẩm thực của người dân Hàn Quốc cũng ngày càng phát triển. Theo đó, các loại bánh tteok và mùi vị của bánh cũng ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. Đặc biệt bánh tteok ngày càng được phát triển để phục vụ riêng cho quần chúng hay cho những tầng lớp thượng lưu. Khác với loại bánh tteok thuần tuý đầu tiên chỉ được làm từ bột gạo hay bột ngũ cốc hấp chín, các loại bánh tteok này được kết hợp giữa các loại ngũ cốc khác nhau cùng với các loại trái cây, hoa, cây cỏ hoang dã, hay các loại thuốc, đã đem lại sự biến hoá đa dạng về hình dáng cũng như màu sắc. Trong các tài liệu có liên quan đến ẩm thực thời Joseon, cũng có ghi chép về các loại tteok rất đa dạng nên chúng ta có thể suy ra được điều này. Mỗi vùng miền lại có các loại tteok đặc trưng của riêng mình. Hơn nữa, ở thời Joseon, các phong tục trong các ngày lễ kỉ niệm đều được phổ biến rộng khắp, và trong tất cả các nghi lễ, dù bữa tiệc lớn hay nhỏ, trong các nghi thức cúng bái, bánh tteok đều được coi như một món ăn thiết yếu.

Những dịp như thế, ngoài các loại bánh chủ yếu như “Peksolki” (bánh gạo nếp), “Pamsolki” (bánh nhân hạt dẻ), “Ssuksolki” (bánh nhân ngải) giống như hiện nay, còn xuất hiện một số loại bánh như “Seoktanpyeong” (bánh làm từ bột nếp, hạt thông, táo tàu trộn vào rồi rắc đậu đỏ lên), “Tohaengpyeong” (bánh làm từ bột nếp trộn với nước đào ép rồi hấp lên), “Kkulsolki” (bánh mật ong), “Sokipyeong” (bánh nấm), “Mutteok” (bánh củ cải), “Songkitteok” (bánh làm từ bột gạo và vỏ thông non), “Sangjapyeong” (bánh làm từ bột gạo tẻ, hạt dẻ và mật ong), “Sansampyeong” (bánh nhân sâm núi), “Kamjapyeong” (bánh khoai tây), “Kitangao”, “Yugo”... Đặc biệt, “Kitangao” và “Yugo” là loại tteok chỉ có ở thời kì này. Để làm “Kitangao”, người ta luộc táo tàu, đậu xanh, đậu đỏ, trộn với bột kê loại không dẻo rồi hấp lên (theo “Sách tổng hợp”, xuất bản năm 1985). Cũng có loại bánh này làm từ loại kê dẻo được trồng ở khu vực phía bắc và đã trở thành đặc sản của vùng này. Còn “Yugo” là loại bánh mà sau khi trộn muối và dầu vừng vào bột gạo làm bánh, người ta thái nhỏ hạt thông và táo tàu để lên trên rồi cho vào nồi hấp, loại bánh này cũng gần giống như bánh “Paekpyeon” ngày nay (theo cuốn “đến thăm Yeokchu”, xuất bản giữa những năm 1800).

Thời kì này, ngoài các loại bánh quen thuộc là “Sirutteok”, “Patsirutteok”, “Kongsirutteok”, còn có một số loại bánh khác như “Kkuljalpyeon” (bánh mật ong), “Noktupyeong” (bánh đậu xanh), “Kkejalpyeon” (bánh vừng), “Hopakpyeon” (bánh bí đao), “Tutoptteok”, “Hontonpyeong”... Trong các loại bánh này, “Tutoptteok” là bánh được làm từ bột gạo nếp trộn với đường hoặc mật ong, hấp chín, rồi dùng bột đậu xanh xào lên làm lớp vỏ ngoài. So với các loại bánh khác thì cách làm loại bánh này đã phát triển hơn và được truyền lại cho đến tận ngày nay. Theo “sách tổng hợp” thì bánh “Hontonpyeong”là loại bánh tương tự như “Tutoptteok”. Bánh này được làm từ các nguyên liệu như bột gạo nếp, hạt tiêu, bột quế, mật ong, hạt thông... Nhưng trong cuốn “Kinh tế rừng mở rộng” xuất bản năm 1776 thì bánh “Hontonpyeong” được nói đến trong sách này lại khác về so với bánh “Tutoptteok”. Sách này nói rằng “Hoà mật ong vào bột kiều mạch, nấu lên như cháo rồi cho vào vại bịt kín miệng”, cho thấy cách làm và nguyên liệu làm loại bánh này khác với các loại bánh tteok khác , và có lẽ bánh “Hontonpyeong” được nói ở đây không phải là loại bánh tteok mà chúng ta đang nói đến ở trên.

Tutoptteok Hontonpyeong

Không chỉ các loại tteok hấp mà các loại tteok trộn cũng phát triển rất đa dạng trong thời kỳ này . “Injolmi” ban đầu chỉ là loại bánh đơn thuần hấp gạo nếp rồi trộn lên, sau đó đã được cho thêm lá ngải, táo tàu, lá đương quy... để tuỳ theo các nguyên liệu đó tạo ra những mùi vị khác nhau. Ngoài ra, cũng có loại bánh “Injolmi” sơ khai được làm bằng gạo nếp và kê trộn lẫn vào nhau rồi hấp lên. Bên cạnh đó, bánh tteok cũng có rất nhiều hình dáng khác nhau như “Huintteok” là loại bánh tteok được làm giống như chiếc cầu dài (theo “thời kì Đông quốc”, xuất bản năm 1849), “Sanpyeong” hay “Hwanpyeong” có hình dáng giống như ngón tay, “Jolpyeon” dần dần được cho thêm lá ngải, cỏ, hay vỏ thông non, và còn được in hoa văn trên mặt bánh nên kiểu dáng và màu sắc ngày càng đẹp mắt.

Kepitteok

Vào thời Joseon, sự xuất hiện trên các văn bản, tài liệu của bánh “Kepitteok” là loại bánh được cho thêm một số nguyên liệu trước khi chín và được nặn theo hình nửa vòng cung là một việc rất đáng chú ý. Theo “Sách ẩm thực” xuất bản giữa những năm 1800, để làm “Kepitteok”, người ta nặn mỏng bánh “Huintteok”, “Ssuktteok” và “Songkitteok” thành hình vòng cung như chiếc bát, rồi trước khi hấp chín cho thêm một ít đậu đỏ hay đậu xanh. Theo đó thì cách làm bánh này thời kì đó cũng tương tự như cách làm ngày nay. Cuốn “Phòng ẩm thực” xuất bản khoảng năm 1670 lại giới thiệu một số loại bánh tteok mà người ta trộn hoa “Jintalle” hay hoa hồng vào bột nếp làm bánh rồi rán chín. Cách làm này cũng gần giống với cách làm hiện nay. Cũng theo sách này, thời đó đã xuất hiện một loại bánh gạo mới tên là “Juak”. Loại bánh này ban đầu gọi là “Juakjon”, được “làm từ bột được nghiền từ gạo đã chà thật trắng, nhào với nước đường, nặn cho phồng lên rồi cho bột đường vào trong và rán chín trong dầu có hương thơm”. Sau này, nguyên liệu chủ yếu để làm loại bánh này được thay đổi thành gạo nếp. Bên cạnh đó, trong sách này còn nhắc đến “Pinjatteok” như một loại bánh điển hình cho các loại bánh rán trong dầu. Cách làm bánh này được miêu tả như sau: “tách vỏ đậu xanh, xay không kĩ lắm, cho dầu rán vào chảo đun sôi rồi cho từng ít một đậu đã xay vào. Hoà mật ong vào đậu đỏ đã tách vỏ, rồi cho vào chảo trước khi đậu xanh chín, rán đến khi bánh có màu vỏ chanh là được”. Nếu theo cách làm như trên thì loại bánh này khác với hình dáng hiện nay và có vẻ gần giống với loại bánh tteok thuần tuý trước kia hơn.

“Kyeongtan” và “Tanjaryu” cũng là hai loại bánh tteok mới được làm ra ở thời Joseon. Theo cuốn sách có tên “Yorok” xuất bản năm 1680 thì bánh “Kyeongtan” xuất hiện lần đầu tiên với tên gọi “Kyeongtanpyeong”, và loại bánh này cũng được nhắc đến ở thời kì sau này trong một số tài liệu về ẩm thực. “Kyeongtanpyeong” được làm bằng bột nếp luộc chín, sau đó nhúng vào mật ong rồi vớt ra, phết lên một loại hương thanh đạm và thơm ngát, rồi lại tiếp tục rưới lên một lớp mật ong. Còn “Tanjaryu”lần đầu tiên xuất hiện ở cuốn “Kinh tế rừng mở rộng” trong bài viết có tên “Tanja- nghệ thuật của hương vị”. Thời kì sau này, bánh “Tanjaryu”ngày càng trở nên đa dạng với nhiều loại mới, như bánh “tanja hạt dẻ”, “Tanja vỏ chanh”, “Tanja khoai sọ”, “Ta n ja hồng khô”, “Tanja khoai mỡ”, “Tanja mật ong”...

Kyeongtan Tanja 3 màu

2.5. Từ sau cận đại

Cuối thế kỉ XIX, cùng với những biến động mạnh mẽ của xã hội, lịch sử của bánh tteok cũng bị thay đổi. Điểm thay đổi lớn nhất là b ánh tteok từ lâu đã được người dân Hàn Quốc yêu thích và coi như đồ ăn vặt, thức ăn trong những ngày đặc biệt hay dùng để thay thế cho cơm đã dần dần bị loại trừ trong thực đơn Thay vào đó là món bánh có nguồn gốc từ phương Tây – bánh mì.

Injeolmi


Thứ hai là , do sự thay đổi của môi trường sinh hoạt nên thay vì làm bánh tteok ở nhà để ăn, người ta thường mua bánh tteok được làm sẵn ở cửa hàng hay các xưởng làm bánh. Do vậy, các loại bánh tteok vốn rất đa dạng chỉ còn lại một số loại chủ yếu được sản xuất ở các xưởng chuyên làm bánh, và đây là một thực tế rất đáng lo ngại.

Nhưng dù vậy, bánh tteok vẫn là món ăn thiết yếu không thể thiếu để dâng lên trong nghi thức tế lễ và các dịp quan trọng. Ở thời kì này, các loại “Sirutteok” được trộn thêm đậu xanh như “Kongpeomuritteok”, “Kongsolki”, “Kongsirupyeon”, “Soemeoritteok”... là các loại tteok mà người dân thường tự làm để ăn. Đặc biệt, “Injeolmi” vốn là loại bánh được làm với 2 cách. Cách thứ nhất là nấu chín gạo nếp thành cơm rồi nặn thành bánh, còn cách thứ 2 là hấp chín bột gạo nếp rồi nặn bánh. Ở thời kì sau cận đại này, người ta chủ yếu làm theo cách thứ 2, vì cách này đơn giản và tiện lợi hơn. Trong cuốn “phương pháp nấu ăn mới” xuất bản năm 1943, hơn 70 loại tteok được giới thiệu rất đa dạng và phong phú. “Toranpyeong” được làm từ bánh “Songpyeon” hoặc từ bột khoai tây sấy khô, “Paekhappyeong” là bánh hấp bằng bột gạo trộn với rễ cây bách hợp, “Sinseonpugwipyeong”, “Heuntteok”, “Puktteok”... là các bánh được trộn các loại dược liệu như bạch thuật, cây irit, sơn dược...

Có thể thấy rằng bánh tteok là loại bánh có lịch sử từ lâu đời, đã cùng với người dân Hàn Quốc trải qua các thăng trầm và biến động trong lịch sử. Trong mỗi thời kỳ, bánh tteok lại có những đặc điểm riêng và cũng có thêm những tên gọi khác cho nó. Qua các giai đoạn, bánh tteok ngày càng đa dạng phong phú về chủng loại cũng như cách làm, và đã trở thành món ăn truyền thống của một đất nước có nền văn hoá ẩm thực vô cùng đặc sắc.

CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA BÁNH TTEOK TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI HÀN QUỐC

1.Ý nghĩa của bánh tteok và văn hóa bánh tteok của người Hàn Quốc

1.1. Phân loại bánh tteok và ý nghĩa của các loại bánh tteok

Bánh tteok chủ yếu được chia ra làm bốn dạng dựa trên cách làm bánh là: bánh tteok hấp, bánh tteok trộn, bánh tteok rán, bánh tteok nặn.

Để làm bánh tteok hấp, người ta cho nước vào bột nhào rồi cho vào nồi hấp. Sau đó trong quá trình hấp, người ta rắc lên một số nguyên liệu tuỳ loại bánh như đậu xanh, đậu đỏ, vừng...và tiếp tục hấp. Tiêu biểu cho loại tteok này là “Solkitteok” (bánh tteok đơn thuần làm từ bột gạo và đường). Tuỳ theo những phụ liệu được trộn vào nguyên liệu chính, và tuỳ theo những khác biệt trong cách làm bánh mà bánh tteok hấp được chia ra các loại sau:

- Theo cách đặt tteok vào nồi hấp: ví dụ như các loại bánh “Solkitteok”, “Muritteok” (bánh củ cải), “Pyeon” (bánh gạo đơn thuần), và “Tuteoptteok” (bánh bột gạo với đường hoặc mật ong, có lớp vỏ ngoài là đậu xanh)...

- Theo nguyên liệu: ví dụ như các loại bánh “Metteok”(bánh làm từ gạo tẻ) “Chaltteok” (bánh làm từ gạo nếp), “Panchalsirutteok” (bánh sirutteok làm từ lúa mạch trộn với gạo nếp)...

- Theo cách làm bánh: ví dụ như các loại bánh “Songpyeon” (nhào bột lúa mạch, cho hạt dẻ, táo tàu, hạt thông, vừng vào, nặn theo hình con sò, rắc lên một ít lá thông rồi hấp chín) và “Jeungpyeon” (nhào bột lúa mạch với nước nóng, trải bánh ra, cho các nguyên liệu như hạt dẻ, táo tàu, hạt thông lên rồi hấp chín)...

Solkitteok Songpyeon

Để làm bánh tteok trộn, người ta hấp các loại lương thực hay ngũ cốc còn nguyên hạt, hoặc cũng có thể xay thành bột rồi mới hấp. Sau đó, cho vào chiếc cối hoặc chiếc bát gỗ rộng và dày để trộn lên. Tiêu biểu cho loại tteok này là “Karaetteok” (bánh hấp từ lúa mạch rồi trộn lên) hay “Injolmi” (bánh hấp từ gạo nếp rồi trộn lên)

Một số loại tteok trộn làm từ lúa mạch: “Jolpyeon”, “Kepitteok”, “Huintteok”...

Một số loại tteok trộn làm từ gạo nếp: “Injolmi”, “Tanja”...

Để làm bánh tteok rán, người ta nhào bột lương thực hoặc ngũ cốc, nặn thành các hình dạng bánh khác nhau rồi cho vào rán trong dầu. Tiêu biểu cho loại tteok này là “Pintaetteok” (bánh tteok được nặn phẳng giống như chiếc giường) và “Jolpyeong” (bánh tteok thuần tuý được nặn thành hình tròn hay hình vuông). Các loại tteok này, tuỳ theo nguyên liệu và cách làm bánh mà chia thành một số loại như: “Hwajeon” (bánh tteok in hoa văn), “Puggumi” (bánh tteok rán làm từ bột mì và gạo nếp, nặn hình tròn và cho thêm đậu đỏ trước khi bánh chín), “Jangtteok” (bánh làm từ bột mì trộn với tương toenjang), “Gontteok” (bánh gạo nếp đơn thuần)...

Hwajeon Jangtteok

Để làm bánh tteok nặn, người ta nhào bột gạo nếp và bột lúa mạch rồi nặn thành các hình dạng bánh khác nhau. Tuỳ theo việc sau khi nặn xong bánh, người ta cho vào hấp hay nhúng vào nguyên liệu gì mà phân thành một số loại bánh. Tiêu biểu cho loại bánh tteok nặn này là các loại bánh nặn rồi hấp lên như “Songpyeon”, các loại bánh hấp rồi lại nặn lại và nhúng vào nguyên liệu nào đó như “Tanja”, hay các loại bánh nặn rồi luộc lên và nhúng vào nguyên liệu gì đó như bánh “Kyeongtan”.

Như chúng ta đã biết, các loại bánh tteok của người Hàn Quốc được làm ra rất đa dạng. Nhưng không chỉ phong phú về chủng loại, mỗi loại bánh tteok đều chứa đựng ý nghĩa khác nhau. Dưới đây là ý nghĩa của một số loại bánh tiêu biểu:

Bánh “Paeksolki” tượng trưng cho sự thanh thoát, sạch sẽ không một chút vẩn đục. Với ý nghĩa của con số 100, loại bánh này cũng mang ý nghĩa tượng trưng cho những gì hoàn chỉnh và trọn vẹn nhất.

Bánh “Susupattteok” là loại bánh với ý nghĩa xua đuổi hết mọi ma quỷ, và giũ bỏ hết mọi rủi ro, thảm hoạ, tai ương.

Bánh “Injolmi” tượng trưng cho sự hoà quyện làm một giữa tâm hồn và thể xác, giống như gạo nếp dẻo hoà quyện với nhau trong cùng một chiếc bánh. Vì thế, đây cũng là loại bánh tượng trưng cho sự hoà hợp trở lại giữa đôi vợ chồng.

Bánh “Songpyeon” ngũ sắc tượng trưng cho sự giao hoà của vạn vật trong thế giới ngũ hành, đồng thời cũng là hình ảnh của một tâm hồn rộng lớn, bao dung, sẵn sàng che chở và bảo vệ giống như lớp bột phủ bên ngoài chiếc bánh.

Bánh “Jolpyeon” là loại bánh tượng trưng cho sự hoà hợp giữa hai vợ chồng, giống như sự hoà quyện giữa màu trắng của bột gạo và màu xanh của lá ngải trong cùng một chiếc bánh.

Bánh “Songpyeon” tượng trưng cho sự hoà thuận giữa những thành viên trong gia đình, với những tấm lòng rộng mở bao dung và che chở cho nhau.

Bánh “Hwajonjuak” là tượng trưng của cái đẹp, của phẩm vị và sự cao thượng của con người.

Bánh “Kijujeungpyeon” là ước muốn của con người có thể tránh xa được bệnh tật, cũng như những tai ương và điều xấu.

Bánh “Chalkkaeki” có ý nghĩa bao hàm của tất cả những điều tốt đẹp nhất trên thế giới này.

Bánh “Pongchaetteok” là loại bánh tượng trưng cho ước nguyện về sự hoà hợp trong đời sống vợ chồng.

Bánh “Taltteok” là mong ước của con người được sống một cuộc sống trọn vẹn và tốt đẹp giống như ánh trăng đêm rằm.

1.2 Bánh tteok trong các ngày lễ tết của Hàn Quốc

Bánh tteok là loại bánh truyền thống gắn liền với đời sống sinh hoạt của người Hàn Quốc. Do vậy, trong các lễ t ết của dân tộc cũng không thể thiếu loại bánh này. Tuỳ theo mỗi tiết, người dân Hàn lại làm và thưởng thức những loại tteok khác nhau. Mỗi loại tteok được ăn trong mỗi tiết cũng chứa đựng những ý nghĩa đặc trưng khác nhau. Dưới đây là một số loại tteok được ăn vào các tiết của Hàn Quốc và ý nghĩa của các loại tteok này:

Tteokkuk


- Vào ngày tết “Sollal” (ngày 1 tháng 1 âm lịch), người dân Hàn Quốc lại ăn “Huintteokkuk” để chào đón năm mới. Loại canh được nấu bằng bánh tteok này được coi là hình ảnh của sự trong sạch và trang nghiêm. Người ta cũng ví việc ăn canh này

vào ngày đầu năm mới như là đã “ăn” thêm một tuổi.

- Vào ngày rằm tháng giêng (ngày 15 tháng 1 âm lịch), người ta ăn “Yaksik” (cơm nếp trộn với nhiều loại nguyên liệu) với ý nghĩa ngăn chặn mọi tai ương và rủi ro.

- Vào ngày “Junghwajol” (ngày 1 tháng 2 âm lịch, là ngày bắt đầu vụ mùa), người chủ ruộng sẽ làm bánh “Songpyeon” để tiếp đãi những người làm công theo số tuổi của họ như một lời động viên họ hãy cố gắng làm việc chăm chỉ hơn trong vụ mùa mới.

- Vào ngày “Samjitnal” (ngày thứ 3 của tháng 3 âm lịch), người ta làm bánh “Jintallehwajon” (bánh làm từ bột gạo và hoa “jintalle”) để ăn với hi vọng sẽ trừ được mọi tai hoạ trong nhà và đạt được mọi ước nguyện của mình.

- Vào ngày Hàn thực (ngày 5 hoặc 6 tháng 4 dương lịch), người Hàn Quốc có bánh “Ssuktteok” (bánh ngải). Sau khi dâng loại bánh này lên cúng tổ tiên, người ta sẽ chia cho mọi thành viên trong gia đình cùng ăn, và đó cũng là ước vọng cho cả gia đình được sống no đủ và sung túc.

- Vào ngày “Kokujol” (ngày 20 hoặc 21 tháng 4 âm lịch), người ta làm bánh “Jangmihwajol” (bánh hoa hồng), “Hwanpyeong” (bánh tteok với lá ngải và lá thông non) để kỉ niệm ngày này.

- Vào ngày “Chopail” (ngày 8 tháng 4 âm lịch), bánh “Neutitteok” (bánh làm từ gạo nếp trộn với cây “Neuti”, loại cây chỉ có ở Hàn Quốc) được ăn để chúc mừng ngày thân sinh ra đức phật Thích Ca Mâu Ni.

- Vào ngày tết đoan ngọ(ngày 5 tháng 5 âm lịch), người ta làm bánh “Surichwijolpyeon” (bánh tteok làm từ gạo và cây “surichwi”) hoặc bánh “Ssukinjolmi” (bánh nhân lá ngải).

- Vào ngày “Yutu” (ngày 15 tháng 6 âm lịch), người ta ăn “Huintteoksutan” (bánh tteok trắng), “Sanghwapyeon” (bánh sương hoa) để quên đi cái nóng.

- Vào ngày “Chilseok” (ngày 7 tháng 7 âm lịch), người ta làm bánh “Jeungpyeon” và “Juak” để ăn. Khi làm bánh “Jeungpyeon”, người ta nhào bột với rượu rồi để lên men, nên dù trời nóng thì bánh này cũng không bị hỏng. Còn “Juak” là loại bánh được rán trong dầu nên cũng để được trong thời tiết nóng bức.

- Vào ngày “Paekjungjol” (ngày tết Vu Lan, 15 tháng 7 âm lịch), người Hàn Quốc lại có bánh “Soktanpyeong”, là loại bánh làm từ gạo nếp trộn với bột thông, táo tàu rồi hấp chín và rắc đậu đỏ lên.

- Vào tết trung thu, người ta ăn bánh “Songpyeon” và bánh “Injolmi” làm bằng gạo lúa mới như lời cảm tạ đến ông bà tổ tiên.

- Vào ngày “Jungyangjol” (ngày tết trùng cửu, 9 tháng 9 âm lịch), bánh “Kukhwajon” (bánh làm từ gạo nếp và hoa) và “Pamtteok” (bánh hạt dẻ) được làm để kỉ niệm ngày này.

- Vào “Sangtal” (tháng 10, được cho là tháng tốt để dâng các loại lương thực ngũ cốc lên cho thần linh), người ta làm “Sirutteok” bằng bột đậu đỏ để dâng lên các vị thần linh với hi vọng có thể ngăn chặn được mọi tai ương, phiền phức, và có được sức khoẻ tốt.

- Vào tháng cuối năm theo lịch âm, người ta ăn “Kolmutteok” (bánh tteok trắng cắt mỏng và dài) với ý nghĩa đáp trả lại ân huệ của các thần linh và thiên địa vạn vật.

Yaksik Jeungpyeon Juak

1.3 Bánh tteok trong các nghi lễ vòng đời : ngày sinh, cưới xin, đám ma, cúng giỗ...

Không chỉ là món ăn không thể thiếu trong các tiết của Hàn Quốc, bánh tteok cũng luôn luôn song hành với người dân Hàn trong tất cả các sự kiện trọng đại trong cuộc đời họ như cưới xin, đám ma, cúng giỗ...Bởi thế, người Hàn Quốc có câu nói: “ 태어나 죽을 때까지 , 한국인의 속엔 떡이 있었다 nghĩa là “từ khi sinh ra đến lúc chết đi trong đời sống của người Hàn Quốc đều có bánh tteok”. Câu nói này có ý nghĩa bánh tteok đã gắn liền với mỗi giây phút trong cuộc đời của người dân Hàn Quốc. Từ giây phút họ được sinh ra đến giây phút họ rời xa cõi đời, thậm chí ngay cả sau đó, bánh tteok vẫn là món bánh không thể thiếu.

Susukyeongtan

Trước hết, bánh tteok là loại bánh rất có ý nghĩa với người dân Hàn ngay từ khi họ được sinh ra. Phong tục nặn bánh “Songpyeon” ngũ sắc thật nhỏ với ý nghĩa có thể điều hòa vạn vật và ngăn chặn sự rủi ro cho em bé là một phong tục đã có từ

lâu đời của dân tộc này.

Khi đứa trẻ được tròn một năm tuổi, người ta làm bánh “Paekiltteok” (bánh một trăm ngày) rồi chia Cho một trăm nhà cùng ăn với tín ngưỡng mong muốn cho đứa trẻ sống thật khoẻ mạnh. Vào ngày đầy năm của đứa bé, họ cũng ăn bánh “Susukyeongtan” (bánh làm từ mật ong và cao lương dẻo). Bánh này có màu đỏ với ý nghĩa hi vọng đứa trẻ sẽ sống khoẻ mạnh và ngăn chặn được mọi tai ương cho đứa trẻ. Đây cũng là phong tục đã có từ lâu đời. Và từ khi đứa trẻ được mười tuổi, thì mỗi năm người ta đều làm bánh “Susukyeongtan” để kỉ niệm ngày sinh cho đứa trẻ.

Không những vậy, trong lễ kết hôn, bánh tteok cũng là một trong những món ăn quan trọng không thể thiếu của người Hàn Quốc. Khi nhà trai mang tráp đựng giấy ghi ngày sinh tháng đẻ của chú rể và thư gửi để quyết định việc kết hôn sang nhà gái, người ta đặt ở sảnh chính một khay “sirutteok” đậu đỏ rồi sau đó mới mang tráp vào. Đây là việc làm có ý nghĩa cầu mong cho hôn sự giữa 2 bên sẽ diễn ra một cách tốt đẹp. Trong hôn lễ, người ta bày bánh tteok thành hình của một cặp gà trống mái cùng với hai bát lớn đựng 21 chiếc bánh “taltteok” (bánh có hình tròn như mặt trăng). Những vật này có ý nghĩa tượng trưng cho tình cảm vợ chồng, với mong muốn hai người sẽ sống hoà thuận và viên mãn. Sau khi hôn lễ đã được cử hành và đưa dâu về nhà trai, nhà gái sẽ gửi sang nhà trai những món ăn được đựng trong bát gỗ. Lúc này, bánh “Kyeongtan”là món ăn không thể thiếu và loại bánh này được gửi sang nhà trai với ý nghĩa “đa phúc” (nhận được nhiều phúc) và “đa sản” (có cuộc sống vật chất đầy đủ). Hơn nữa, “Kyeongtan” là loại bánh có thể để được một thời gian khá lâu mà không hỏng, nên đó là loại bánh tteok thích hợp để nhà gái gửi sang cho nhà trai.

Không chỉ là loại bánh luôn có mặt trong hỉ sự của người Hàn Quốc, ngay cả khi họ qua đời, bánh tteok cũng là món ăn phải có trên bàn tế lễ trong ngày giỗ của họ mỗi năm. Theo truyền thống đạo Khổng, thông thường người ta không cúng bánh “Solkitteok” (bánh tteok đơn thuần trắng như tuyết) mà cúng một số loại bánh như “Noktupaekpyeon” (bánh tteok trắng có trà xanh), “Jepipatpaekpyeong” (bánh tteok trắng có đậu đỏ), hoặc “Imjapaekpyeon”.

Patsirutteok Noctupaekpyeon

Tục ngữ Hàn có câu “ 떡 본김에 제사를 지낸다 ” , nghĩa là “nhân tiện thấy bánh tteok thì tế lễ luôn”. Ý câu tục ngữ này muốn nói, là chỉ cần có bánh tteok thôi, cũng có thể làm đồ cúng để dâng lên cho thần linh và các vị tổ tiên. Do đó, trong các nghi lễ mang tính tập thể của người Hàn Quốc, bất kể đó là chuyện vui hay chuyện buồn, trong các món ăn được chuẩn bị không thể thiếu bánh tteok. Hay nói cách khác, bánh ttok là món ăn luôn luôn phải có trong các nghi lễ, nghi thức của người Hàn .

2. Ý nghĩa của bánh tteok thông qua ngôn ngữ

Có thể nói trong kho tàng từ vựng tiếng Hàn, rất hiếm từ ngữ nào lại chứa đựng ý nghĩa sâu xa như từ “tteok”. Tuỳ theo chủng loại tteok hay cách làm bánh, hình ảnh bánh tteok trong lời ăn tiếng nói của người Hàn Quốc cũng bao hàm những ý nghĩa khác nhau. Để làm rõ thêm nhận xét này, chúng ta hãy cùng điểm qua một số hình ảnh bánh tteok có mặt trong các quán dụng ngữ, trong tục ngữ và thành ngữ 4 chữ của tiếng Hàn.

2.1. Trong quán dụng ngữ

Có một số câu nói mà người Hàn Quốc thường dùng có hình ảnh bánh tteok như:

Câu “ 일주일간 안감았더니 머리가 떡이 됐다 ” trong tiếng Hàn nghĩa là “Mái tóc không gội suốt một tuần giống như là tteok”. Ở đây, người ta muốn so sánh mái tóc của người nào đó như bánh tteok dính vào nhau không thể gỡ được.

Câu “ 떡 주무르듯 한다 ” nghĩa là “Làm như là nắn bánh tteok”, dùng để chỉ hành động bắt người khác làm theo ý của bản thân mình.

Câu “ 떡이 되도록 술을 마셨다 ” nghĩa là “Uống rượu đến mức giống như là bánh tteok”, dùng để chỉ trạng thái say bí tỉ của người nào đó đến mức vô thức không còn biết gì nữa. Đồng thời, hình ảnh bánh tteok trong câu nói này còn được dùng như một ẩn ngữ để nói về chất ma tuý.

Câu 떼어 듯하다 nghĩa là “như là chia bánh để ăn”, dùng để chỉ việc phan chia công việc rõ ràng cho từng người thực hiện.

2.2. Trong tục ngữ

Chúng ta hãy cùng xem qua một số hình ảnh bánh tteok trong tục ngữ Hàn Quốc và ý nghĩa của các câu tục ngữ này

· 김에 제사 지낸다 (nhân tiện có tteok thì tế lễ luôn). Câu tục ngữ này được dùng với ý “một công đôi việc”, đồng thời cũng khẳng định tầm quan trọng của bánh tteok trên bàn tế lễ, chỉ cần có bánh tteok thôi, cũng có thể làm đồ cúng để dâng lên cho thần linh và các vị tổ tiên .

· 3 câu tục ngữ 먹는 따로 있고 , 먹는 따로 있다 (có bụng dành để ăn cơm, và có bụng dành để ăn bánh tteok), 주고 맞는다 (cho bánh tteok lại bị ăn tát) và 달라는데 준다 (đòi bánh tteok lại đưa cho đá) đều được dùng chung với 1 ý nghĩa, chỉ sự vô tâm của con người.

· 가는 떡이 커야 오는 떡이 크다 (bánh tteok đi có to thì bánh tteok đến mới to), hay 떡이 개면 남의 떡도 개다 (bánh tteok của tôi là 2 cái thì của người khác cũng là 2 cái), 2 câu tục ngữ này đều mang ý nghĩa nếu như mình đối xử tốt, công bằng với người khác thì người ta cũng sẽ đối xử với mình như thế.

· 개가 그림 바라듯 한다 (con chó nhìn bánh tteok trong tranh), ám chỉ tâm lý chờ đợi, mong muốn có được cái gì đó một cách vô ích mà không bao giờ đạt được.

· 굿이나 보고 떡이나 먹자 (nhìn cái lỗ và ăn bánh tteok), câu tục ngữ này khuyên người ta đừng có tham gia một cách vô ích vào việc vủa người khác mà hãy cứ lo việc của mình đã.

· 기름떡 먹기다 (ăn bánh tteok rán trong dầu), ví với việc ăn bánh tteok rán vừa ngon lại vừa dễ ăn, câu tục ngữ này dùng để chỉ việc gì đó rất dễ làm mà không phải tốn công sức.

· 비지떡 (đồ rẻ như là bánh tteok trắng), nghĩa là đồ vật gì giá rẻ thì chất lượng cũng không tốt, tương đương với câu “của rẻ là của ôi” trong tiếng Việt.

· 보기 좋은 떡이 먹기도 좋다 (tteok nhìn đẹp thì ăn cũng ngon), được dùng với nghĩa vật gì có hình dáng bên ngoài đẹp thì nội dung , bản chất bên trong cũng tốt.

· 미운 하나 준다 (người mình ghét thì cho thêm một cái bánh tteok), khuyên người ta càng là người mình ghét thì càng phải đối xử thật tốt để lấy được cảm tình của người ta và không mang lại điều xấu cho mình.

· 남의 떡으로 제사 지낸다 (tế lễ bằng bánh tteok của người khác), dùng để ám chỉ việc gì đó đạt được là nhờ vào công của người khác.

· 노인 말을 들으면 자다가도 떡이 생긴다 (nếu nghe lời những người già thì đang ngủ cũng thấy bánh tteok), khuyên con người ta nên nghe theo lời dạy của những người đi trước, vì họ là những người đãcó nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống.

· 누워서 저절로 입에 들어오는 떡은 없다 (chỉ nằm đấy thì không tự dưng mà có bánh tteok để ăn), nhắc nhở người ta nếu không biết cố gắng thì sẽ chẳng đạt được thành quả gì. Câu tục ngữ này tương đương với câu “Có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho” trong tiếng Việt.

· Hai câu tục ngữ 떡도 나오기 전에 김칫국부터 마신다 (bánh chưa đến đã uống canh kimchi trước), hay 사람은 생각하지도 않는데 김칫국부터 마신다 (người ta còn chưa nghĩ đến việc cho bánh mà đã uống canh kimchi trước) đều được dùng với nghĩa cười nhạo ai đó mặc dù việc tốt còn chưa thấy đâu nhưng đã mơ ước đến chuyện đón nhận việc đó.

· 위의 (tteok đặt trên cơm), nghĩa là bánh tteok được nhiều người yêu thích như là một món ăn đặc biệt mà sau khi ăn cơm no rồi vẫn có thể ăn thêm được.

· 여름비는 잠비요 가을비는 떡비다 (mưa hè là mưa ngủ, mưa thu là mưa bánh), nghĩa là mùa hè mưa thì tốt nhất là đi ngủ, còn mùa thu mưa thì người ta thường làm bánh tteok để ăn cho đỡ nhạt miệng.

· 장떡이 큰가 장떡이 큰가 한다 (bánh “Jangtteok” này to hay bánh “Jangtteok” kia to), dùng để ám chỉ trường hợp người ta đang phân vân giữa 2 việc mà không biết việc nào sẽ có lợi hơn.

· 입에 떡도 먹는다 (bánh tteok đến cửa miệng còn không ăn được), ám chỉ việc gì đã sắp hoàn thành xong nhưng cuối cùng lại đổ bể.

· 먹을 집안 (trong nhà làm bánh ăn), ám chỉ những gia đình không hoà thuận, trong nhà thường lục đục và lộn xộn.

· 떡방아를 찧어도 옳은 방아를 찧어다 (giã bánh cũng phải giã cho đúng cách),khuyên người ta mọi việc, dù lớn hay nhỏ, cũng đ ều cần phải thực hiện một cách cẩn thận, đ úng trình tự và bài bản.

2.3. Trong thành ngữ 4 chữ

* 화중지병 ( 畵中之餠 ): “hoạ chung chi bính” (bánh tteok trong tranh), câu thành ngữ này có 3 ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất, ám chỉ về một vật gì đó chỉ để ngắm nhìn thôi chứ không có chút giá trị sử dụng nào cả. Ý nghĩa thứ 2, để chỉ vật gì đó hay một điều gì đó mà ta không bao giờ sở hữu được cũng như không bao giờ đạt được. Và ý nghĩa thứ 3, là dùng để nói về một việc làm phù phiếm, không mang lại một kết quả gì.

* 옹산화병 ( 甕算畵餠 ): “ung toán hoạ bính” (đếm bánh tteok trong chum), câu thành ngữ này mang ý nghĩa thứ 3 của câu thành ngữ trên, cũng ám chỉ một việc làm vô ích không có ý nghĩa.

* 양수집병 ( 手執餠 ): “lưỡng thủ chấp bính” (hai tay cầm bánh tteok), câu thành ngữ này được dùng để chỉ những trường hợp khó khăn, tiến thoái lưỡng nan, giống như việc cầm tteok ở cả 2 tay thì giữ lại cũng khó mà vứt đi cũng khó.

* 오병이어 ( 五餠二魚 ): “ngũ bính nhị ngư” (5 chiếc bánh và 2 con cá), câu thành ngữ này có nguồn gốc từ một câu chuyện lạ kì được nói đến trong Kinh Thánh. Câu chuyện kể rằng Đức chúa Jesu chỉ cần 5 chiếc bánh tteok ( người Hàn lấy bánh tteok để thay cho bánh thánh, vì 2 loại bánh này cùng màu trắng, hình tròn) và 2 con cá cũng có thể phân phát cho 5 nghìn người dân nghèo khổ.

Qua việc điểm qua một số hình ảnh bánh tteok chứa đựng trong ngôn ngữ tiếng Hàn như trên, chúng ta có thể thấy việc có rất nhiều những câu tục ngữ, thành ngữ liên quan đến bánh tteok đã chứng minh tầm quan trọng của bánh tteok trong cuộc sống sinh hoạt của người dân Hàn Quốc, và đồng thời cũng thể hiện rõ tính dân tộc sâu sắc của dân tộc này.

CHƯƠNG III: CHẾ BIẾN BÁNH TTEOK

Mặc dù tteok và “Hankwa” (cũng là một loại bánh của Hàn Quốc, làm từ bột nếp, b

Picture of Nguyễn Trần Gia Linh
Trả lời: Bánh tok và đời sống của người Hàn Quốc
by Nguyễn Trần Gia Linh - Thursday, 29 October 2009, 08:47 AM
 
V ơi, tớ rất tò mò về cách chế biến món bánh nếp xào tương ớt của Hàn Quốc. V có biết thì mô tả công thức cho tớ với. Tớ là sinh viên bên Khoa Luật, biết V qua đề tài nghiên cứu này (khi search trên google). Nice to meet you!!!
Gia Linh ^ ^