HANU
 
 
Picture of Nguyen Thanh Xuan
Thăng Long có bốn vị thần
by Nguyen Thanh Xuan - Thursday, 11 January 2007, 10:28 PM
 
Để có được một Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn vật và đậm nét văn hiến hôm nay người dân Hà Nội không bao giờ quên những truyền thuyết về các vị thần trấn giữ 4 hướng Thăng Long.

Theo sử sách và các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng: Trong tín ngưỡng người Việt, ngay từ khi dựng đô, các vị vua đã tìm thấy niềm tin vào kinh thành bền vững một cách ngẫu nhiên, thấy các hướng đều có các vị Phúc Thần che chở, bảo vệ, tiêu biểu là các vị thần trấn giữ 4 phía Đông - Tây - Nam - Bắc dân gian quen gọi là “Thăng Long tứ trấn”, đó là thần Long Đỗ thờ ở đền Bạch Mã, thần Cao Sơn thờ ở đình Kim Liên, thần Linh Lang thờ ở đền Voi Phục và thần Trấn Vũ thờ ở đền Quán Thánh.

Nói về “Thăng Long tứ trấn” trước hết phải kể đến thần Long Đỗ trấn giữ hướng Đông - hướng mặt trời mọc. Ông là vị thần thiêng, được chúng dân thời xưa ở Thăng Long rất tôn sùng, kính phục. Khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long - năm 1010 nhà vua cho xây thành Thăng Long. Nhưng thành đắp lên rồi lại bị đổ, quân sĩ đã dùng nhiều sức để đắp nhưng vẫn không được. Vua Lý liền cử vị quan to đến cầu thần Long Đỗ. Thần Long Đỗ, hiệu Quảng Lợi Bạch Mã đại vương, tức thần núi Long Đỗ (núi Nùng). Tương truyền núi có khe sâu thông xuống lòng đất tiếp nhận khí thiêng sông núi. Long Đỗ là vị thần của linh khí núi sông thiêng liêng vào bậc nhất nước Nam. Do thành tâm cầu khẩn nên đã xuất hiện một hiện tượng lạ là từ trong đền tiến ra một “ngài” ngựa trắng. Ngựa không phi nước đại mà ung dung cất vó quanh một vòng thành. Dấu chân ngựa in đậm trên vùng đất thiêng chỗ xây thành. Nhà vua ra lệnh, quân sĩ cứ theo dấu chân ngựa trắng mà lấy đất đắp thành. Từ đó thành được đắp cao lên, rất vững chắc. Thành xây xong, nhà vua xuống chiếu cho chúng dân Thăng Long thờ thần làm Thành hoàng - Quốc đô định bang Thành hoàng đại vương. Nhà vua lại phong tặng là “Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần”. Từ đấy ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng và đền Bạch Mã được xây ở phố Hàng Buồm.

Từ hướng đền Bạch Mã về Hồ Tây, bên đầu đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) là ngôi đền lớn tọa lạc bên hồ Trúc Bạch, đó là đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ - một vị thần trấn giữ hướng Bắc kinh thành. Xung quanh vị thần trấn hướng Bắc có truyền thuyết cho rằng: Ngài vốn là con một vị vua ở phương Bắc, lớn lên bỏ ngôi hoàng tử để tu luyện các phép thần linh ở hang núi Vũ Dương. Rồi ngài sang nước Việt giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm, lập được công to nên vua Hùng rất kính trọng. Sử sách ghi lại: Dòng dõi vua Hùng gồm 18 đời. Bắt đầu từ Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng thứ 6 Hùng Huy Vương có giặc Ân sang xâm lược nước ta. Thần Trấn Vũ đầu thai vào một bà mẹ ở làng Phù Đổng - bộ Võ Ninh. Bà sinh cậu bé để rồi vươn mình đứng dậy cao lớn lạ thường khi nghe sứ nhà vua rao tìm người ra cứu nước, đó là chàng trai Phù Đổng - Thánh Gióng - một trong tứ bất tử của Đại Việt ta.

Ngôi đền theo tư liệu cũ được xây dựng vào những năm đầu khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Vua Minh Mạng lên ngôi đổi tên ngôi đền là Trấn Vũ Quán vào năm 1823. Đến đời vua Thiệu Trị năm 1842 đổi tên là đền Quán Thánh như hiện nay ta quen gọi. Đền Quán Thánh đứng ở một địa thế rất đẹp cạnh hai hồ trên đường Cổ Ngư là hồ Trúc Bạch và Hồ Tây. Trong đền có một bức tượng đồng Trấn Vũ cao lớn uy nghi nặng 4 tấn. Pho tượng đồng đen lớn này là tác phẩm nghệ thuật của các tay thợ tài hoa làng đúc đồng Ngũ Xã liền kề.

Trấn phía Tây kinh thành là thần Linh Lang Đại Vương được thờ trong đền Voi Phục (Cầu Giấy). Thần tích ghi lại rằng thần vốn là một Thiên sứ đầu thai làm con nàng phi thứ bảy của vua Lý Thái Tông, được vua cha yêu quý đặt tên là Linh Lang. Tương tự như người anh hùng làng Gióng, khi đất nước có giặc ngoại xâm, hoàng tử nhỏ vươn mình trở thành một dũng sĩ cưỡi voi xung trận, diệt tan quân xâm lược. Sau chiến thắng bỗng nhiên hoàng tử lâm bệnh, vua cha đến thăm, chàng cho biết mình không phải là người trần rồi biến thành con giao long trườn xuống hồ Dâm Đàm và biến mất. Vua cho lập đền thờ, phong là “Thượng đẳng thần”.

Đền thờ Linh Lang được xây dựng vào năm 1065, đời vua Lý Thánh Tông. Đền nằm trên đất làng Thủ Lệ, phía Tây thành Thăng Long xưa. Ngoài cổng đắp hình hai con voi, trong đền còn lưu giữ tảng đá có vết lõm, tương truyền đó là dấu vết hoàng tử nằm gối đầu rồi hóa thành giao long và biến mất. Ngôi đền tọa lạc bên hồ Thủ Lệ, ẩn dưới hàng cây cổ thụ rợp bóng quanh năm.

Trấn giữ phía Nam kinh thành Thăng Long là thần Cao Sơn. Đình thờ ngài - cũng gọi là đền ở làng Kim Liên.

Đền Kim Liên xây trên gò đất cao, quay mặt về hướng Nam, trông ra một hồ rộng xưa gọi là hồ Đồng Lầm. Kim Liên - làng sen vàng - vốn là một làng đẹp, có nghề nhuộm vải, có phong tục lễ nghi phong phú. Kim Liên xưa còn có tên nôm là làng Đồng Lầm “Đồng Lầm có vải nâu non/ Có hồ cá rộng, có con sông dài”. Thời xưa Đồng Lầm là một vùng có tên đẹp Kim Hoa. Đây là một trong 23 phường thôn hợp thành tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Đến khoảng đầu đời vua Thiệu Trị - Nguyễn Phúc Miên Tông tức Nguyễn Hiến Tổ (1841-1847) vì phải kiêng tên húy của bà mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa nên đổi là Kim Liên, sau là tổng Kim Liên.

Như thế, “Thăng Long tứ trấn” được tạo dựng, tôn thờ cùng lúc với việc Lý Công Uẩn xây dựng Thăng Long thành kinh đô muôn đời của con cháu Đại Việt. Đó là cách mà vị vua anh minh cùng vương triều nhà Lý dùng để tôn vinh mảnh đất của cha ông linh thiêng, vững bền muôn thuở.


Source : Vanhoaphuongdong
(Theo Người Hà Nội)